07:11 ICT Thứ bảy, 24/10/2020
Website www.doanhnghiepcantho.vn đang trong quá trình thử nghiệm và hoàn thiện.

Danh mục

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 5


Hôm nayHôm nay : 51

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 12957

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 2974976

Doanh nghiệp tiêu biểu

Bo ngoai giao

Trang chủ » Tin Tức » Các hoạt động đoàn thể » Hội Cựu chiến binh

Hình tuyên truyền

Báo cáo số 75 của Hội CCB KDN

Thứ ba - 20/05/2014 08:29
         HỘI CCB TP CẦN THƠ                    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HỘI CCB KHỐI DOANH NGHIỆP                         Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
                --------------                                                         
           Số 75/BC-HCCB                                  Cần Thơ, ngày 29  tháng 4  năm 2014
 
 
BÁO CÁO 
Tổng kết việc thi hành Pháp lệnh Cựu Chiến binh Việt Nam
 

Thực hiện Công văn số 85/CV-CCB, ngày 24/12/2013 của Hội Cựu Chiến binh thành phố Cần Thơ về việc Tổng kết việc thi hành Pháp lệnh Cựu Chiến binh;

Ban Thường vụ Hội Cựu Chiến binh Khối Doanh nghiệp thành phố Cần Thơ,  báo cáo kết quả 08 năm thực hiện Pháp lệnh Cựu Chiến binh Việt Nam, có hiệu lực tự ngày 01/01/2006 đến nay cụ thể như sau:

* ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH CHUNG:
- Hội Cựu Chiến binh Khối Doanh nghiệp được Hội Cựu Chiến binh TP Cần Thơ quyết định chia tách từ Hội Cựu Chiến binh Khối Cơ quan Dân chính Đảng TP Cần Thơ vào ngày 01/10/2004, đến nay đã trải qua 3 lần Đại hội, Hội Cựu Chiến binh Khối Doanh nghiệp TP Cần Thơ đi vào hoạt động ngày càng có chất lượng hiệu quả. Thực hiện nhiệm vụ của Hội trên cơ sở Nghị quyết của các cấp ủy Đảng và của Hội Cựu Chiến binh cấp trên và cấp mình.
- Các Tổ chức Hội Cựu Chiến binh cơ sở đều hoạt động trong các đơn vị sản xuất kinh doanh, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chi bộ, Đảng bộ cơ sở, do đó việc thực hiện nhiệm vụ của Hội phải lòng ghép và phối hợp các hoạt động cùng Công đoàn, Đoàn thanh niên của các doanh nghiệp. Qua 8 năm triển khai, quán triệt và thực hiện Pháp lệnh Cựu Chiến binh Việt Nam đạt được kết quả như sau.
Phần thứ nhất
Kết quả thi hành Pháp lệnh Cựu Chiến binh
I/ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC:
1/ Tổ chức thi hành Pháp lệnh Cựu Chiến binh:
- Nhận thức về Cựu Chiến binh và Hội Cựu Chiến binh. Hội Cựu Chiến binh là một Tổ chức chính trị - xã hội, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Đảng Cộng sản Việt Nam; có chức năng đại diện ý chí, nguyện vọng và quyền lợi chính đáng, hợp pháp của Cựu Chiến binh. Hội Cựu Chiến binh làm tham mưu giúp cấp ủy Đảng về công tác Cựu Chiến binh và nòng cốt tập hợp, đoàn kết, vận động Cựu Chiến binh thực hiện các nhiệm vụ chính trị - xã hội của Đảng, Nhà nước và của Hội Cựu Chiến binh Việt Nam; tham gia giám sát hoạt động của cơ quan  Nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ viên chức Nhà nước và thực hiện nhiệm vụ theo quy đinh Điều lệ Hội Cựu Chiến binh Việt Nam.
          - Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền. Sau khi được tiếp thu Pháp lệnh Cựu Chiến binh Việt Nam. Ban Thường vụ Đảng ủy Khối Doanh nghiệp, lãnh đạo, chỉ đạo Hội Cựu Chiến binh Khối Doanh nghiệp, triển khai, quán triệt Pháp lệnh Cựu Chiến binh Việt Nam đến cán bộ, hội viên, kết quả đến nay có 36 cuộc, trên 1.700 lượt hội viên, đoàn viên tham dự, trong đó có 100% cán bộ, hội viên CCB.
- Việc phối hợp xây dựng và ban hành văn bản hướng dẫn; việc triển khai và thực hiện Pháp lệnh Cựu Chiến binh. Trên cơ sở Kết luận số 66 của Ban Bí thư, về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị (khóa IX) “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác Cựu Chiến binh Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới” và Nghị định số 150/2006/NĐ-CP, ngày 12/12/2006 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Pháp lệnh Cựu Chiến binh; Thông tư liên tịch số 10 về thực hiện mộ số điều Nghị định số 150/2006/NĐ-CP của Chính phủ,  từ đó Hội Cựu Chiến binh Khối Doanh nghiệp tham mưu cho Ban Thường vụ Đảng ủy Khối Doanh nghiệp xây dựng kế hoạch triển khai đến cấp ủy cơ sở lãnh đạo Hội Cựu Chiến binh cụ thể hóa nhiệm vụ cấp mình và tổ chức thực hiện hoàn thành tốt nhiệm vụ trong thời gian qua.
- Vai trò, trách nhiệm của Hội CCB các cấp trong quá trình thi hành Pháp lệnh Cựu Chiến binh. Hội Cựu Chiến binh Khối Doanh nghiệp phối hợp cùng với các Ban xây dựng Đảng trực thuộc Đảng ủy Khối Doanh nghiệp lãnh đạo các Hội cơ sở phối hợp cùng Công đoàn, Đoàn thanh niên, tập hợp, đoàn kết, động viên các thế hệ Cựu Chiến binh phát huy tốt bản chất truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, giữ gìn phẩm chất, đạo đức cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị; giáo dục cán bộ, hội viên luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, nồng cốt trong việc xây dựng lực lượng tự vệ cơ quan, đơn vị an toàn, góp phần hoàn thành tốt sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp.
- Hội Cựu Chiến binh Khối Doanh nghiệp luôn xác định nhiệm vụ bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa là khâu then chốt, nên thường xuyên lãnh đạo cán bộ, hội viên tham gia học tập đầy đủ các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước và Hội CCB các cấp, kết quả hàng năm có trên 98% hội viên được học tập quán triệt. Tiếp tục lãnh đạo cán bộ, hội viên tích cực tham gia học tập và tuyên truyền giáo dục các chỉ thị, Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, Nghị quyết Đại hội Hội CCB cấp trên, kết quả 61 cuộc, cho 2.400 lượt cán bộ, hội viên tham dự.
- Quán triệt thực hiện Kết luận số 66 của Ban Bí thư, về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị (khóa IX) “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác Cựu Chiến binh Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới” và Tổng kết 5 năm việc thực Nghị định số 150/2006/NĐ-CP, ngày 12/12/2006 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Pháp lệnh Cựu Chiến binh; từ đó Hội Cựu Chiến binh Khối Doanh nghiệp cụ thể hóa nhiệm vụ cấp mình và tổ chức thực hiện hoàn thành tốt nhiệm vụ trong thời gian qua.
- Hội Cựu Chiến binh Khối Doanh nghiệp luôn thực hiện tốt việc triển khai, quán triệt thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, kết quả 7 năm thực hiện cuộc vận động, hội viên Cựu Chiến binh được các cấp tặng 22 giấy khen cho cá nhân và tặng “Huy hiệu Bác Hồ” cho 52 hội viên có nhiều thành tích trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
2/ Kết quả thi hành các qui định của Pháp lệnh:
a/ Việc xác định đối tượng là Cựu Chiến binh  và  xác nhận Cựu Chiến binh:
- Việc xác định đối tượng Cựu Chiến binh là cán bộ, chiến sĩ, dân quân, tự vệ, du kích tập trung, đã tham gia chiến đấu ở đơn vị tập trung theo quyết định thành lập hoặc giao nhiệm vụ của cấp có thẩm quyền và theo quy định của Điều 4, Điều lệ Hội Cựu Chiến binh Việt Nam; Cựu Chiến binh là cán bộ, chiến sĩ đã được giáo dục, đào tạo, rèn luyện bản lĩnh chiến đấu, bản lĩnh chính trị vững vàng, ý thức chấp hành tổ chức kỷ luật nghiệm, luôn phát huy tốt bản chất truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”; tích cực tham gia bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống.
- Kết quả phát triển hội viên Hội Cựu Chiến binh từ khi có Pháp lệnh 241 hội viên, trong đó cấp tá 06 đ/c; cấp úy 107 đ/c; HSQCS 128 đ/c; không cấp 0.
- Việc xác nhận Cựu Chiến binh. Căn cứ hồ sơ đã hoàn thành nhiệm vụ tại ngũ, xuất ngũ, phục viên, nghỉ hưu, do cơ quan quân sự, Ủy ban nhân dân xã, phường, quận, huyện, tỉnh, thành quản lý và Hội Cựu Chiến binh các cấp xác minh, xác nhận.
b/ Về tổ chức, biên chế, (chuyên trách, kiêm nhiệm) các cấp Hội:
- Số lượng Chủ tịch: 01 kiêm nhiệm cấp Hội CCB Khối Doanh nghiệp, 24 kiêm nhiệm cấp Hội CCB cơ sở.
- Số lượng phó Chủ tịch: 02 kiêm nhiệm cấp Hội CCB Khối Doanh nghiệp, 25 kiêm nhiệm cấp Hội Cựu Chiến binh  cơ sở.
c/ Về thực hiện nhiệm vụ của Hội Cựu Chiến binh Việt Nam:
- Hội Cựu Chiến binh Khối Doanh nghiệp xác định nhiệm vụ bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa là khâu then chốt. Từ đó, thường xuyên tổ chức cho cán bộ, hội viên tham gia học tập, tuyên truyền đầy đủ các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước và Hội CCB các cấp, kết quả hàng năm có trên 98 % hội viên được học tập quán triệt, từ đó Hội CCB Khối Doanh nghiệp cụ thể hóa nhiệm vụ cấp mình và tổ chức thực hiện hoàn thành tốt nhiệm vụ của Hội trong 8 năm qua.
- Hội Cựu Chiến binh Khồi Doanh nghiệp, lãnh đạo cán bộ, hội viên có lập trường quan điểm tư tưởng, chính trị vững vàng, luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, chống mọi âm mưu thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch chống phá công cuộc đổi mới của cách mạng Việt Nam; đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc của kẻ thù và mọi biểu hiện tiêu cực tham nhũng, quan liêu, lãng phí và tư tưởng, quan điểm trái với đường lối đổi mới của Đảng, Nhà nước ta trong tình hình chính trị, kinh tế, xã hội hiện nay.
- Hội Cựu Chiến binh Khồi Doanh nghiệp, lãnh đạo các Tổ chức Hội cơ sở duy trì thực hiện các chế độ báo cáo, chế độ sinh hoạt định kỳ, đột xuất đúng quy định. Tổ chức quản lý cán bộ, hội viên theo phân cấp và tham gia thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, thực hiện tốt thỏa ước lao động tập thể của doanh nghiệp, xây dựng Quy chế làm việc của Hội,  tổ chức ký kết liên tịch cùng các đoàn thể trong doanh nghiệp và bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của hội viên, từ đó tạo được niềm tin vững chắc của hội viên đối với Tổ chức Hội, nên hội viên luôn an tâm tư tưởng công tác, thực hiện hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Hàng năm đánh giá phân loại Tổ chức Hội “Trong sạch vững mạnh” đạt trên 95%, trong đó đạt “Trong sạch vững mạnh xuất sắc” đạt trên 25%; hội viên đạt danh hiệu “Hội viên gương mẫu” đạt trên 98%; và 100% hộ hội viên đạt tiêu chuẩn “Gia đình văn hóa”.
d/ Kết quả thực hiện chế độ, chính sách ưu đãi đối với Cựu Chiến binh:
- Cán bộ, hội viên Cựu chiến binh Khối Doanh Nghiệp phần lớn là công nhân lao động, trực tiếp làm nhiệm vụ sản xuất kinh, thu nhập chủ yếu là tiền lương hàng tháng, nên đời sống tương đối ổn định. Hội Cựu chiến binh Khối Doanh Nghiệp lãnh đạo các Hội cơ sở gây quỹ bằng nhiều hình thức hợp lý, với tổng số tiền 450.000.000 đồng, hàng năm giải quyết cho hơn 400 lược hội viên vay không tính lãi và góp vốn xoay vòng làm kinh tế phụ gia đình với tổng số tiền 537.600.000 đồng, qua các phong trào trên kinh tế gia đình hội viên ngày càng được ổn định, đời sống vật chất tinh thần được nâng lên đáng kể.
- Thực hiện chính sách đền ơn đáp nghĩa, xóa đối giãm nghèo, các Hội cơ sở đã tham gia phụng dưỡng 03 Mẹ VNAH, bình quân trợ cấp mỗi tháng 400.000 đồng/mẹ và tổ chức thăm viếng tặng quà cho các gia đình chính sách, gia đình thương binh - liệt sỹ, đóng góp quỹ vì người nghèo, quỹ tấm lòng vàng, đóng góp quỹ khuyến học, đồng bào bị lũ lụt, thiên tai, với tổng số tiền 1.675.000.000 đồng. Ngoài ra, còn có 03 hội viên Cựu Chiến binh được hưởng chế độ trợ cấp một lần theo Quyết định 290 và Quy định 188 của Chính phủ.
- Trong 8 năm qua hội viên Cựu Chiến binh tham gia đóng góp xây dựng Nhà tình nghĩa, Nhà tình đồng đội, Nhà tình thương, tổng trị giá 1. 265.000.000 đồng và  “Góp đá xây Trường Sa”, Đài tưởng niệm các chiến sĩ quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa được 11.390.000 đồng.
đ/ Việc thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ làm công tác Hội:
Thực hiện Thông tư liên tịch số 10/2007/TTLT-BLĐTB&XH-HCCBVN-BTC-BQP, ngày 25/7/2007 của Bộ Lao Động Thương binh và Xã hội – Hội Cựu Chiến binh Việt Nam – Bộ Tài chính – Bộ Quốc phòng về hướng dẫn thực hiện một số điều Nghị định số 150/2006/NĐ-CP, ngày 12/12/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Pháp lệnh Cựu Chiến binh. Hội Cựu Chiến binh Khối Doanh nghiệp phối hợp cùng cấp ủy cơ sở và lãnh đạo doanh nghiệp triển khai, thực hiện phụ cấp đối với chủ tịch, phó  chủ tịch như sau.
* Hội Cựu Chiến binh cơ sở
+ Số chủ tịch được hưởng 10 đ/c. Số chủ tịch chưa được hưởng 14 đ/c, lý do không được hưởng: Doanh nghiệp Cổ phần, không còn 100% vốn của Nhà nước nữa.
+ Số P. chủ tịch được hưởng 11 đ/c. Số P. chủ tịch chưa được hưởng 14 đ/c, lý do không được hưởng: Doanh nghiệp Cổ phần, không còn 100% vốn của Nhà nước nữa.
* Hội Cựu Chiến binh Khối Doanh nghiệp TP Cần Thơ.
+ Số chủ tịch được hưởng phụ cấp kiêm nhiệm 01 đ/c. Số  chủ tịch chưa được hưởng 0 đ/c, lý do không được hưởng: Không được biên chế cán bộ chuyên trách theo quy định của Ban tổ chức Trung ương.
+ Số phó chủ tịch được hưởng 0 đ/c. Số phó chủ tịch chưa được hưởng 0 đ/c, lý do không được hưởng: Không được biên chế cán bộ chuyên trách theo quy định của Ban tổ chức Trung ương.
- Chính sách, chế độ đối với người được tuyển dụng vào công tác Hội làm công tác nghiệp vụ, chuyên môn. Biên chế: 0; hợp đồng: 0 (được hưởng các chế độ, chính sách theo qui định của Đảng, Nhà nước hay chưa được hưởng, lý do: Không có biên chế).
- Trợ cấp khi thôi làm công tác Hội (thực hiện theo Thông tư liên tịch số 10/2007/TTLT-BLĐTBXH-HCCBVN-BTC-BQP ngày 25/7/2007) số được trợ cấp thôi công tác Hội 0 đ/c, số chưa được trợ cấp thôi công tác Hội 0 đ/c, lý do chưa thực hiện được trợ cấp thôi công tác Hội: Không có biên chế.
e/ Kinh phí, tài sản đảm bảo hoạt động (qui định tại điều 13 Pháp lệnh):
- Kinh phí  được cấp hàng năm 20.000.000đ, đủ hoạt động hay không đủ hoạt động, chỉ  đủ hoạt động đạt 50%
- Tài sản  đảm bảo hoạt động thường xuyên: Không có.
g/ Trách nhiệm HĐND, UBND các cấp (chương IV của Pháp lệnh): Thực hiện đúng quy định của Trung ương.
II/ TỒN TẠI, VƯỚNG MẮC VÀ KHÓ KHĂN TRONG QUÁ TRÌNH THI HÀNH PHÁP LỆNH:
1/ Tồn tại:
Nêu tồn tại trong quá trình thực hiện các qui định của Pháp lệnh (nêu rõ những tồn tại trong quá trình thực hiện Pháp lệnh đã khắc phục và tồn tại hiện nay chưa khắc phục được).
- Các Cấp ủy, lãnh đạo doanh nghiệp thiếu sự quan tâm chỉ đạo, chỉ chủ yếu tập trung sản xuất kinh doanh và làm công tác nghiệp vụ chuyên môn, nên việc thực thi Pháp lệnh chưa đạt yêu cầu.
- Cán bộ trong toàn Khối Doanh nghiệp không có biên chế chuyên trách, nên việc triển khai thực hiện Pháp lệnh còn hạn chế; Cán bộ, hội viên đa số là công nhân lao động, nên việc tập trung thời gian cho việc sản xuất kinh doanh là chủ yếu, nên việc triển khai thực hiện Pháp lệnh đạt kết quả chưa cao.
- Những tồn tại, yếu kem trên trên, khắc phục còn rất chậm.
2/ Vướng mắc, khó khăn:
Nêu những vấn đề trong vướng mắc, khó khăn trong quá trình thực hiện các qui định của Pháp lệnh, đi sâu vào các vấn đề sau:
- Việc xác định đối tượng là Cựu Chiến binh: Không.
- Việc xác nhận Cựu Chiến binh: Không.
- Việc tổ chức Hội Cựu Chiến binh trong các cơ quan, tổ  chức và việc thành lập Hội Cựu Chiến binh ở các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế: Đa số chủ doanh nghiệp không muốn thành lập tổ chức Hội Cựu Chiến binh trong doanh nghiệp của họ.
- Việc thực hiện chế độ, chính sách đối với Cựu Chiến binh: Khi có chế độ chính sách của Đảng, Nhá nước, thì hướng dẫn hội viên liên hệ với địa phương nơi cứ trú thực hiện, còn trong doanh nghiệp không có.
- Việc thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ làm công tác Hội (chủ tịch, phó chủ  tịch, cán bộ tuyển dụng chính thức và hợp đồng): Không có biên chế cán bộ chuyên trách; không có phụ cấp kiệm nhiệm; không có kinh phí hoạt động.
- Về bảo đảm kinh phí hoạt động: Không đảm bảo.
- Về trách nhiệm của các cơ quan đơn vị  có chức năng đối với Cựu Chiến binh và Hội Cựu Chiến binh: Trách nhiệm các cấp ủy đảng và lãnh đạo doanh nghiệp, có rất nhiều nơi không quan tâm, có quan tâm nhưng rất kém.
- Về công tác phối hợp với các ngành chức năng: Còn hạn chế.
3/ Nguyên nhân tồn tại, vướng mắc, khó khăn:
(về nhận thức; về công tác lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện; về công tác tham mưu đề xuất của Hội Cựu Chiến binh; về quan hệ phối hợp thực hiện; do qui định của Pháp lệnh không phù hợp.v.v.).
- Nguyên nhân tồn tại:
+ Các Tổ chức Hội cơ sở hoạt động trong các đơn vị sản xuất kinh doanh; làm việc theo ca; lực lượng hội viên phân tán; cán bộ Hội đều kiêm nhiệm; không có kinh phí hoạt động; có nơi không có phụ cấp kiêm nhiệm cho cán bộ Hội cơ sở; còn rất nhiều Hội cơ sở chưa được sự quan tâm đúng mức của các cấp ủy Đảng, lãnh đạo doanh nghiệp. Từ đó việc tổ chức thực hiện Pháp lệnh còn gặp rất nhiều  khó khăn.
+ Trong những năm gần đây một số Công ty, Xi nghiệp tiến hành cổ phần hóa, nên từng bước không còn nguồn vốn chi phối của Nhà nước trong các doanh nghiệp cổ phần và do sự suy thoái của nền kinh tế toàn cấu, ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế thị trường của nước ta; một số doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả; từ đó lãnh đạo doanh nghiệp tập trung thời gian và lực lượng cho việc sản xuất kinh doanh, nên việc tổ chức và hoạt động của Hội Cựu Chiến binh cơ sở đạt kết quả chưa cao.
+ Tình hình hoạt động của Tổ chức Hội Cựu Chiến binh trong các đơn vị sản xuất kinh doanh hiện nay theo tinh thần Pháp lệnh Cựu Chiến binh Việt Nam là không phù hợp với điều kiện thực tiển, vậy nên xây dựng thành Luật Hội Cựu Chiến binh Việt Nam, vì Luật là cơ sở pháp lý cao và toàn diện hơn Pháp lệnh.
Phần thứ hai
Một số đề xuất, kiến nghị
1/ Đề xuất, kiến nghị chủ  trương, biện pháp đề tiếp tục thi hành Pháp lệnh:
Hội Cựu Chiến binh Khối Doanh nghiệp TP Cần Thơ không kiến nghị, đế xuất gì thêm.
2/ Đề xuất, kiến nghị những nội dung cần nghiên cứu, đề cập trong dự thảo Luật Cựu Chiến binh chuẩn bị ban hành:
Chú ý đề xuất những vấn đề sau:
- Về tên gọi của Luật “Luật Hội Cựu Chiến binh Việt Nam”’; đối tượng áp dụng “Hội viên Cựu Chiến binh và Cựu quân nhân”.
- Về Cựu Chiến binh và hội viên Cựu Chiến binh.
+ Việc xác định đối tượng là Cựu Chiến binh như Pháp lệnh là phù hợp với thực tiễn chưa? Cần bổ sung hoặc sửa đổi đối tượng nào? Không.
+ Cần phân biệt 2 đối tượng (Cựu Chiến binh và hội viên Cựu Chiến binh), nên xác định 1 đối tượng là: “Hội viên Cựu Chiến binh” và đưa qui định về xác nhận Cựu Chiến binh vào Luật không? Nêu đưa quy định việc xác nhận Hội viên Cựu Chiến binh vào Luật, nhằm cụ thể hóa việc xác nhận Hội viên Cựu Chiến binh được thuận lợi hơn.
- Qui định của Pháp lệnh về chính sách, chế  độ đối với Cựu Chiến binh và quyền lợi Cựu Chiến binh đã phù hợp chưa? Có nội dung nào chưa phù hợp, khó cụ thể hóa trong thực tiễn, cần sửa đổi, bổ sung? Không.
(Tạo việc làm, giao đất, giao rừng, giao mặt nước để sản xuất kinh doanh và tham gia các dự án phát triển kinh tế- xã hội; việc vay vốn ưu đãi để sản xuất kinh doanh, dịch vụ, xóa đói, giảm nghèo; thực hiện chế độ BHYT, khám chữa bệnh; tổ chức tang lễ, thực hiện chế độ mai táng phí…)
- Việc thực hiện chế độ chính sách đối với cán bộ làm công tác Hội có cần qui định trong Luật không? Cần có quy cụ thể trong Luật, để thuận lợi việc thực thi các chế độ đối với cán bộ làm công tác Hội được đảm bảo và thuận lợi hơn.
- Về nguyên tắc tổ chức, hoạt động và hệ thống tổ chức của Hội Cựu Chiến binh Việt Nam được qui định trong Pháp lệnh đã phù hợp chưa? Cần sửa đổi, bổ sung như thế nào? Có cần qui định về việc sáp nhập, giải thể Hội Cựu Chiến binh và việc tổ chức Hội Cựu Chiến binh trong các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế không? Nên có quy định việc sáp nhập, chia tách đối với tổ chức Hội Cựu Chiến binh trong Cơ quan hành chính sự nghiệp, doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp cổ phần, doanh nghiệp tư nhân.
- Về nhiệm vụ của Hội Cựu Chiến binh và nghĩa vụ  của Cựu Chiến binh có cần sửa đổi, bổ sung gì không? Không.
- Những qui định của Pháp lệnh về bộ máy giúp việc của Hội Cựu Chiến binh các cấp, về kinh phí hoạt động, về trách nhiệm của các cơ quan, tổ  chức đối với  Hội Cựu Chiến binh đã phù hợp chưa? Cần sửa đổi, bổ sung gì? Nên có quy định cán bộ chuyên trách hoặc cán bộ kiệm nhiệm và chế độ phụ cấp đối với cán bộ làm công tác Hội trong Cơ quan hành chính sự nghiệp, doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp cổ phần còn chi phối vốn điều lệ của Nhà nước, doanh nghiệp cổ phần không còn chi phối vốn điều lệ của Nhà nước và doanh nghiệp tư nhân. Đồng thời, nên có phân bổ kinh phí hoạt động cho các tổ chức Hội Cựu Chiến binh trong Cơ quan hành chính sự nghiệp và các loại hình doanh nghiệp.
Ngoài những nội dung gợi ý trên, căn cứ vào thực tiễn thi hành Pháp lệnh ở địa phương, đơn vị mình, Hội Cựu Chiến binh các cấp nghiên cứu, đề xuất thêm những nội dung khác cần đề cập để xây dựng Luật Cựu Chiến binh:
- Căn cứ vào tình hình, nhiệm vụ thực tế trong thời gian qua, Hội Cựu Chiến binh Khối Doanh nghiệp TP Cần Thơ có kiến nghị, đế xuất cụ thể như sau:
1/ Cần có biên chế cán bộ chuyên trách hoặc cán bộ kiệm nhiệm trong Cơ quan hành chính sự nghiệp, doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp cổ phần còn chi phối vốn điều lệ của Nhà nước, doanh nghiệp cổ phần không còn chi phối vốn điều lệ của Nhà nước và doanh nghiệp tư nhân có tổ chức Hội Cựu Chiến binh.
2/ Khi có cán bộ chuyên trách hoặc cán bộ kiệm nhiệm, thì cho cán bộ làm công tác Hội hưởng phụ cấp kiêm nhiệm Chủ tịch, phó Chủ tịch và ủy viên Ban Chấp hành đến cấp Hội Cựu Chiến binh cơ sở.
3/ Cần có cấp kinh phí hoạt động cho đến cấp Hội CCB cơ sở trong Cơ quan hành chính sự nghiệp, doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp cổ phần còn chi phối vốn điều lệ của Nhà nước, doanh nghiệp cổ phần không còn chi phối vốn điều lệ của Nhà nước và doanh nghiệp tư nhân có tổ chức Hội Cựu Chiến binh.
4/ Đề nghị các cấp có thẩm quyền, có chính sách ưu tiên thu nhận con của hội viên Cựu Chiến binh tốt nghiệp đại học vào làm việc ở các Cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp và các loại doanh nghiệp đúng ngành nghề.
Trên đây là báo cáo Tổng kết 8 năm thực hiện Pháp lệnh Cựu Chiến binh Việt Nam của Hội Cựu Chiến binh Khối Doanh nghiệp thành phố Cần Thơ.
 
T/M BAN THƯỜNG VỤ ĐẢNG ỦY            T/M BAN THƯỜNG VỤ HỘI CCB
               PHÓ BÍ THƯ                                                              CHỦ TỊCH
 
 
 
 
 
            La Quốc Nghĩa                                                            Đoàn Sắc Son

Tác giả bài viết: Hội CCB KDN

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Giới thiệu

Giới thiệu

Website đang phát triển nên chưa có bài viết trong phần này.

Đăng nhập thành viên

Thăm dò ý kiến

Cơ quan, doanh nghiệp cần có Website riêng hay không?

Có.

Không vì tốn hao nhân lực.

Rất cần thiết để đăng thông tin.

Câu trả lời khác.